Dinh dưỡng cho bà bầu cà các biến chứng thai nghén nguy hiểm

Dinh dưỡng sớm quyết định thể chất trẻ

Thống kê của bộ Y Tế giai đoạn 2001-2005 cho thấy có tói 1,867 triệu trẻ bị suy dinh dưỡng (ỖDD) thể nhẹ cân, 2,155 triệu trẻ bị thấp lùn và 337.000 trẻ bị ỖDD nặng, trong số dó có tói khoảng 30% có liên quan tói ỔDD bào thai. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, dể giảm tỉnh trạng ỖDD trẻ em, vấn đề cần quan tâm nhất là dảm bảo dinh dưỡng tối ưu ngay từ giai doạn đầu tiên của chu kỳ vòng dòi.

Chăm sóc từ thòi kỳ bào thai

Theo PGS. TS Lê Thị Hợp – Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, phát triển cơ thể của bào thai liên quan với tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của người mẹ, đặc biệt trong ba tháng đầu của thai kỳ và giai đoạn trước khi mang thai. Do vậy, có thể xem sự chăm sóc bà mẹ giai đoạn trước khi mang thai và ba tháng đầu là điều kiện tiên quyết, quyết định cho sự phát triển chiều cao, cân nặng sơ sinh của trẻ và hạn chế sinh non.

Nếu thai nhi không được chăm sóc tốt ngay từ đầu, bà mẹ không ăn uống đầy dủ sẽ có nguy cơ bị SDD bào thai, hậu quả là trẻ sinh ra nhẹ cân chiều dài kém hơn bình thường gây ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần và vận động, khi lớn lên khó đuổi kịp được những bạn cùng trang lứa cả về thể lực lẫn trí lực.

Trong vòng 15 tuần đầu của thời kỳ thai nghén, tốc độ phát triển chiều dài của thai nhi là cao nhất. Trong quá trình phát triển, bào thai đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng rất cao, đặc biệt từ tuần thứ 32 đến tuần thứ 34, thai nhi phát triển chủ yếu là trọng lượng. Chế độ ăn của người mẹ cần đầy đủ đảm bảo cung cấp chất dinh dưỡng cho thai nhi phát triển.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy có mối quan hệ giữa SDD bào thai với các bệnh mãn tính như: Bệnh tim mạch; bệnh chuyển hóa (béo phì, đái đường); Bệnh máu (thiếu máu dinh dưỡng)…

Những đứa trẻ bị SDD bào thai nếu tiếp tục sống trong môi trường thiếu thốn sẽ bị thấp, còi xương, SDD rồi

sức me oụý HƠM mq sau này trở thành những bà mẹ thấp bé nhẹ cân. Khi có thai, những bà mẹ này lại đẻ ra những đứa con cân nặng thấp, theo một vòng luẩn quẩn.

Những đứa trẻ bị SDD bào thai nếu được sống trong môi trường thực phẩm đầy đủ có thể đuổi kịp về cân nặng những dễ trở thành thấp béo (hoặc béo phì), về sau trở thành những bà mẹ thấp béo, dễ mắc những bệnh mãn tính và có thể lại sinh ra những đứa con còi cọc.

Dinh dưỡng hợp lý

TS Hợp lưu ý các thai phụ không phải cứ lượng ăn nhiều là đảm bảo dinh dưỡng, mà quan trọng là ăn đủ nhu cầu: Đa dạng thực phẩm. Cần ghi nhớ, mỗi chất dinh dưỡng chỉ thật sự phát huy hết hiệu quả khi nó đảm bảo nằm trong khẩu phần ăn cân đối hợp lý. Chế độ dinh dưỡng mất cân đối là nguyên nhân gây rối loạn dung nạp Glucose của thai nhi, ăn thiếu hoặc thừa Protein có ảnh hưởng tới rau thai và huyết áp của bào thai. Thiếu hoặc thừa Lipid, Acid Folic, Vitamin A, sắt, Iod, canxi các nguyên tố vi lượng khác cũng gây ra tình trạng SDD và nhiều rối loạn khác cho sự phát triển của bào thai.

Giai đoạn chăm sóc trẻ sơ sinh cũng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của trẻ sau này. Nhiều bà mẹ tuy rất lắm sữa nhưng con vẫn còi, nguyên nhân là trong sữa không đủ các chất dinh dưỡng, phần lớn là do người mẹ trẻ ăn uống kiêng khem nhiều vì sợ “mất dạ”. “Có nhiều trẻ phải cấp cứu hay mắc phải những bệnh nặng, nguyên nhân chính là do không áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp”, bà

 

Hợp nhấn mạnh.

Theo TS Hợp, việc ăn bổ sung đúng thời điểm vô cùng quan trọng. Nếu cho trẻ ăn bột quá sớm cùng chế độ ăn rất ít protein, thiếu thành phần dầu mỡ, góp phần đẩy tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng ngày một cao. Nhưng nếu sau 6 tháng tuổi, chỉ cho bú mẹ mà không cho ăn dặm thì sữa mẹ không thể đủ dinh dưỡng cho trẻ phát triển. Sau 6 tháng tuổi, ngoài bú sữa mẹ, cần cho trẻ ăn bổ sung, đảm bảo các nhóm tinh bột, protein, mỡ, chất xơ. Khi chế biến thức ăn nên cho trẻ tập ăn từ đồ loãng (như cháo loãng, bột), sau dần đến đồ cứng hơn.

Những biến chứng thai nghén nguy hiểm

Trong thòi kỷ mang thai, rẩt nhiều phụ nữ gặp những triệu chứng thai nghén: buồn nôn, chóng mặt, nhạy cảm vối mùi lạ nhưng không ảnh hưổng nhiéu đến mẹ và bé. Tuy nhiên, có những triệu chửng lại là dẩư hiệu báo trưốc tai biến có thể xảy ra. Theo bác sĩ Jean Claude Tissot, Khoa ỗản bệnh viện Việt Pháp, khi gặp những biến chứng dưói dây, thai phụ cẩn dến ngay bệnh viện dể được bác sĩ chuyên khoa thăm khám.

Ra máu âm đạo

Là hiện tượng không thể coi thường. Nếu xảy ra trong

ba tháng của thai kỳ thì phần lớn liên quan đến bong nhau, chỉ cần được nghỉ ngơi, máu sẽ không ra nữa và mọi chuyện sẽ trở lại bình thường. Nhưng cũng có thể đó là dấu hiệu sẩy thai hoặc một thai nghén bệnh lý như chửa ngoài tử cung, chửa trứng, thai chết lưu. Nếu các tháng tiếp sau, hiện tượng ra máu vẫn tiếp diễn thì rất có thể báo động tình trạng cổ tử cung bị nhiễm khuẩn, rau thai cung cấp chất dinh dưỡng cho em bé bám quá thấp (rau tiền đạo), sẩy muộn, đẻ non.

Nhiễm trùng đường tiết niệu:

Tỷ lệ thai sản bị nhiễm trùng đường tiết niệu khá cao, nguy hiểm hơn, nhiều khi không có những dấu hiệu lâm sàng. Phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng đường tiết niệu nếu không được phát hiện và diều trị kịp thời có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cả người mẹ và thai nhi: Viêm bể thận, viêm thận, đẻ non, đẻ nhẹ cân, trẻ sơ sinh có nguy cơ tử vong cao.

Có cơn co tử cung và dọa đẻ non:

Bác sĩ Jean Claude Tissot cho biết, từ tuần thứ 30 trở đi, sản phụ xuất hiện nhiều cơn co khiến cổ tử cung mở ra. Lúc này, sản phụ có nguy cơ đẻ non rất cao và bắt buộc phải điều trị giảm cơn co.

Huyết áp cao kèm theo phù nề bàn chân (xuống máu):

Có những sản phụ bị phù nề rất nặng, sáng ngủ dậy tay, chân đều đau, khó bước đi và rất khó nắm tay lại. Nếu sản phụ có biểu hiện tăng huyết áp, kèm theo phù nề ở bàn chân và xét nghiệm có Albumin trong nước tiểu sẽ dẫn đến nguy cơ tụ máu ở rau thai khiến rau thai có thể bị bong ra bất ngờ và nhanh. Khi đó, thai nhi sẽ bị chết lưu trong tử cung.

Tiền sản giật

Là bệnh nhiễm độc thai thường gặp, chiếm tỷ lệ 6%- 8% số phụ nữ mang thai. Biểu hiện đặc trưng: Cao huyết áp, phù mặt, tay và nước tiểu nhiều chất đạm. Tiền sản giật có thể khiến người mẹ bị tổn thương các cơ quan như: Gan, thận, chảy máu (máu chảy không cầm được hay co giật khi chuyển dạ); làm thai nhi chậm phát triển, suy thai, thậm chí chết trong tử cung.

Tăng cân nhanh trong quá trình mang thai và tiểu đường thai nghén:

Một bà mẹ quá nặng cân sẽ có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao và tiểu đường, saụ đó phát triển thành bệnh béo phì khó chữa.

Nếu bị tiểu đường trước khi mang thai phải được điều trị đường huyết ổn định mới sinh con để tránh nguy cơ bị dị tật cho trẻ. Bị tiểu đường trong quá trình mang thai có thể được kiểm soát bằng chế độ ăn hợp lý. Người mẹ không nên ăn quá nhiều mà phải ăn đa dạng để vừa đủ dinh dưỡng cho con vừa kiểm soát được đường huyết. Hạn chế thức ăn nhiều chất béo như mỡ động vật, đường. Người bị tiểu đường có nguy cơ sinh non, đặc biệt tiểu đường nặng vào cuối thai kỳ gây tăng huyết áp buộc phải mổ để lấy thai sớm.

Share this post