Cơn đau thắt ngực bất ngờ và bệnh của các bé

Cảnh giác với cơn đau thắt ngực

Khi xuất hiện cơn đau tức, ngưòi bệnh có cảm giác như bị vật nặng chèn ép vào ngực, một số trưòng họp cảm giác đau như bóp vào tim, đau rát, đau như cứa. Theo các chuyên gia, lối sống thay đổi, có nhiều thói quen xẩu như nghiện thuốc lá, ăn uống quá dư thừa gây béo phì,’ tăng cholesterol máu, tăng huyết áp khiến mạch vành bị xơ vữa, bị chít hẹp là nguyên nhân làm số ngưòi bị cốc cơn đau thắt ngực ngày càng gia tăng.

Đau thắt ngực là gì?

Đau thắt ngực là một thuật ngữ y học, chỉ triệu chứng của bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ. Nguyên nhân gây bệnh là một nhánh nhỏ của động mạch vành bị hẹp, làm cho một vùng cơ tim không được cấp máu đầy đủ nên không đảm bảo nuôi dưỡng cơ tim.

Tuy nhiên, nhiều người bệnh cho rằng đau thắt ngực là cơn đau có cảm giác như thắt lại ở vùng ngực. Thực tế có rất nhiều cơn đau như vậy do các bệnh lý khác ở tim, phổi, thực quản, dạ dày, xương sườn, thần kinh, và ở cơ nhưng lại không phải do thiếu máu cơ tim cục bộ nên không được gọi là cơn đau thắt ngực.

Cơn đau thắt ngực thường tái diễn nhiều lần, mỗi cơn đau thường kéo dài từ 2 đến 10 phút. Cơn đau quá ngắn dưới 1 phút hoặc quá dài trên 15 phút, thường không phải là đau thắt ngưc.

Những người có nguy cơ đau thắt ngực?

Bệnh thường xuất hiện ở tuổi trên 40 vói nam chiếm 80%, trên 45 tuổi với nữ giới. Những người mắc các bệnh béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, người ăn quá nhiều chất béo, có thói quẹn hút thuốc lá, ít vận động, hay phải lo nghĩ, gia đình tiền sử có người đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não đều là đối tượng có nguy cơ bị cơn đau thắt ngực.

Khi nào xuất hiện cảm giác đau thắt ngực?

Đau thắt ngực xuất hiện sau một hoạt động gắng sức như làm việc nặng, chạy, leo dốc cầu thang, quan hệ tình dục. Nếu cơn đau xuất hiện khi nghỉ ngơi, thư giãn, ngủ thường không phải là đau thắt ngực. Yếu tố tâm lý như xúc động mạnh, bực tức, cáu giận, lo sợ cũng có thể là nguyên nhân xuất hiện cơn đau. Ngưỡng đau là mức độ gắng sức của người bệnh để xuất hiện cơn đau. Ví dụ như đau xuất hiện sau mỗi lần đi bộ được đúng lkm. Động mạch vành càng hẹp thì ngưỡng đau càng thấp, có những bệnh nhân chỉ vận động tăng lên một chút là đã xuất hiện cơn đau.

Đa số bệnh nhân có ngưỡng đau ổn định (cơn đau thắt ngực ổn định). Ví dụ như khi leo cầu thang lên đến tầng 3 là xuất hiện cơn đau, sáng chạy thể dục đến đúng một địa điểm là thấy đau, xách đến xô nước thứ 2 là thấy đau. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không ổn định. Đó là biểu hiện của bệnh càng ngày càng nặng lên, các cơn đau xuất hiện dày lên, đau dữ dội hơn, chỉ chạy đoạn ngắn, leo mấy bậc cầu thang đã đau. Đau thắt ngực không ổn định rất nguy hiểm vì khó phân biệt với nhồi máu cơ tim.

Tự cắt cơn đau như thê’nào?

Đa số cơn đau xuất phát từ giữa ngực ngay sau xương ức, hoặc bên ngực trái vùng trước tim. Sau đó đau lan từ ngực lên vai trái. Nếu lan xa hơn sẽ xuống cánh tay trái, cẳng tay trái, ngón tay trái và thường là ngón út. Số ít trường hợp lan lên cổ, tay phải, thượng vị nhưng không bao giờ lan xuống đến rốn.

Khi đang hoạt động gắng sức mà xuất hiện cơn đau, phải tự dừng ngay hoạt động lại và nghỉ ngơi, cơn đau sẽ hết sau vài phút. Khi có những dấu hiệu cơn đau tức ngực, người bệnh cần đến ngay các trung tâm y tế để được các bác sĩ khám và chuẩn đoán xác định cơn đau thắt ngực.

Hiện có rất nhiều thuốc tốt để điều trị và dự phòng cơn đau thắt ngực, nhưng cần phải có chỉ định và theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa.

Để phòng cơn đau thắt ngực, chế độ ăn giảm mỡ và muối, không hút thuốc lá. Đồng thời cần tăng cường luyện tập thể dục và vận động thân thể, điều trị tốt các bệnh béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường.

Bé vào tháng tuổi từ thứ 2 đến thứ 4

Thòi điểm bé bắt đầu vào tháng tuổi thứ 2, sau một thòi gian vất vả, một mỏi để lo cho bé ăn, ngủ cùng những bất ngò mà bạn chưa thể lưòng hết được khi bẻ ra đòi thỉ lúc này bạn mỏi thực sự cảm nhận về thành viên mối trong gia đình.

Từ 1 đến 4 tháng tuổi là giai đoạn chuyển đổi sâu sắc về thể chất và tinh thần của trẻ. Trước đây là giai đoạn sơ sinh sống hoàn toàn phụ thuộc, giờ đây trẻ đã hoạt bát và biết đáp lại các biến đổi xung quanh.

Những phản xạ sơ sinh cũng mất dần thay vào đó là các phản ứng bản thể chủ động như bạn có thể thấy bé dành nhiều thời gian để nhìn ngó bàn tay và khám phá sự ngọ nguậy của chúng. Bé cũng quan tâm hơn đến xung quanh, nhất là những người luôn gần gũi bé như mẹ, cha và anh chị. Từ đó là việc học cách nhận biết giọng nói và khuôn mặt của bạn. Sẽ đến lúc bạn thấy bé cười vui sướng khi bạn đến gần hoặc nghe bạn nói và bé cũng nói chuyện với bạn bằng những tiếng gừ gừ dễ thương. Một giai đoạn mới cho sự hình thành tính cách của trẻ bắt đầu.

Về khả năng nhìn: Lúc 2 tháng, mắt bé có sự phối hợp tốt hơn, hai mắt đồng thời chuyển động, có thể cùng nhìn vào một vật. Sau đó, bé có thể theo dõi đồ chơi chuyển động nửa vòng trước mặt. Bé cũng cảm nhận được độ xa gần. Lúc 3 tháng tuổi bé đã biết dùng tay đẩy các đồ vật lên trên, ra trước: Hành động này chưa có ý thức rõ rệt nhưng nên khuyên khích để giúp khả năng phối hợp của tay và mắt. Đến 4 tháng, bé đã nhìn xa hơn, thậm chí nhìn được hình ảnh qua tivi, qua cửa sổ. Đây là mốc quan trọng khởi đầu tầm nhìn xa của bé. Sự phát triển dần trong khả năng nhận biết màu sắc và hình khối của bé được thể hiện rõ: Lúc 1 tháng, bé chỉ cảm nhận được độ sáng và đậm nhạt của màu sắc, nhưng đến 4 tháng, bé đã nhận được các gam màu và sự thay đổi máu sắc ở bức tranh. Lúc 3 tháng thì bé rất quan tâm đến hình tròn, điều đó lý giải tại sao khuôn mặt của bố mẹ đến gần lại lôi cuốn như vậy.

Về khả năng nghe: Bé thường thích thú khi bạn nói chuyện với nhiều âm sắc, thay đổi giọng điệu liên tục từ chậm rãi đến cao giọng hay cường điệu một số âm tiết. Bạn cần tập luyện khả năng giao tiếp cho bé bằng cách thường xuyên nói chuyện, tăng dần mức độ từ câu đơn giản đến cách nói của người lớn. Lúc 4 tháng, bé bắt đầu bi bô, tự vui thích với những âm thanh mới lạ, bé nhạy cảm với giọng nói của người xung quanh. Sự nhẹ nhàng của bạn làm bé sung sướng và ngược lại, sự cáu giận có thể làm bé khóc.

Hy vọng một vài gợi ý trên sẽ giúp các ông bố bà mẹ trẻ hiểu hơn về sự phát triển của con mình và biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng một cách tốt nhất để bé chóng lớn, khỏe mạnh và thông minh.

Sơ cứu khi chưa có bác sỹ

Có rất nhiều tai nạn xảy ra trong cuộc sống hàng ngày mồ vỉ không biết cách xử lý, hay xử lý không đúng trước khi đưa được bệnh nhân đến bệnh viện đã dẫn tỏi những hậu quả đống tiếc, thậm chí gây tử vong. Những kiến thức so cửu một số tai nạn thường gặp dưới đây sẽ giúp bạn đọc biết cách xử lý dúng khi không có bốc sĩ. Diều này lại càng cần thiết vói những người di công tốc, hoặc sống ỗ những vùng hẻo lánh, xa xôi, phải mẩt nhiều giò mói tói đưọc các co sỏ y tế.

  1. Cầm máu vết thương

Trước hết cần nârìg cao phần bị thương lên, rồi dùng gạc, khăn sạch bịt chặt <diơ đến khi máu ngừng chảy. Nếu máu vẫn tiếp tục chảy, phẵi buộc chặt phần trên của vết thương. Thắt chặt bằng khăn gấp bản rộng hay thắt lưng, tuyệt đối không dùng dây thừng hoặc dây thép. Lưu ý chỉ buộc ở tay và chân. Khoảng 3 phút lại nới lỏng chỗ buộc ra một chút để xem máu có cầm không và để máu lưu thông. Nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện. Nếu bị thương nặng, trong quá trình vận chuyển, cố gắng đặt cao chân, thấp đầu để tránh bị sốc.

  1. Điện giật – sét đánh

Có thể làm liệt trung khu hô hấp, nếu nặng sẽ vừa làm ngừng tim, vừa ngừng thở, nếu nhẹ sẽ khiến ngừng tim trong một thời gian ngắn, lên cơn co giật, mê sảngv.v. Lúc này cần ngắt dòng điện ngay lập tức bằng các vật cách điện như gậy, que gỗ. Chú ý bệnh nhân có thể ngã đập mạnh xuống sàn khi ngắt điện. Nếu bệnh nhân vẫn còn thở và tim vẫn đập, chỉ mê man bất tỉnh cần được kích thích bằng cách gọi nhiều lần, giật tóc, vã nước vào mặt.

  1. Ngừng thở

Do tai nạn hoặc biến chứng đột ngột của bệnh với các triệu chứng như bất tỉnh, co giật, xanh xám toàn thân, da lạnh mất mạch. Bệnh nhân phải được cấp cứu ngay, không được chậm một phút nào và phải dược cấp cứu liên tục, không gián đoạn. Các biện pháp gồm:

  • Xoa bóp tim: Đặt bệnh nhân nằm ngửa trên một nền cứng, đầu thấp, chân gác cao. Người làm xoa bóp đứng ở bên bệnh nhân, đặt lòng bàn tay phải ở 1/3 dưới xương ức bệnh nhân, lòng bàn tay trái đặt lên trên tay phải. Dùng sức mạnh của 2 tay và cơ thể ấn mạnh, nhịp nhàng 60 lần/phút, không ấn lên xương sườn. Lực ấn phải đủ cho xương ức và lồng ngực bệnh nhân xẹp xuống khoảng 4 cái. Nếu thấy sắc mặt bệnh nhân hồng hơn, đồng tử không giãn to, mỗi lần ấn sờ thấy động mạch bẹn đập thì việc xoa bóp đã có hiệu quả. Không được xoa bóp tim nếu bệnh nhân bị thương nặng ở lồng ngực, ứ máu. Xoa bóp tim có thể gây gẫy xương sườn, rất hiếm khi gây gẫy xương ức, vỡ gan, vỡ lách, chảy máu ngoài màng tim, màng phổi.
  • Thổi ngạt: Người thổi ngạt quì bên cạnh, gần đầu bệnh nhân. Lau sạch mồm, họng, lấy hết dị vật, răng giả, thức ãn, đờm dãi của bệnh nhân. Độn gối dưới cổ bệnh nhân sao cho cổ ưỡn tối đa, kéo mạnh hàm dưới ra phía trước và lên trên để lưỡi không tụt sâu bịt khí quản. Bóp mũi bệnh nhân bằng ngón cái và ngón trỏ, đặt lớp gạc mỏng ở miệng bệnh nhân cho há to. Hít thật sâu rồi áp vào mồm bệnh nhân thổi mạnh, dài hơi khiến lồng ngực bệnh nhân nở rộng ra, mỗi phút thổi 15 lần như thế. Tốt nhất là có 2 người cấp cứu để phối hợp ấn tim với thổi ngạt theo ty lệ: 4 lần ấn tim/1 lần thổi ngạt. Trong quá trình thổi ngạt, nên lau đờm dãi cho bệnh nhân thường xuyên để đường hô hấp được lưu thông. Còn nếu chỉ có một người thì cứ 15 lần ấn tim lại 2 lần thổi ngạt thật mạnh, thật sâu. Khi bệnh nhân bị nôn, co giật hoặc cứng hàm thì có thể thổi vào mũi bệnh nhân, là trẻ nhỏ thì thổi cả mũi cả mồm.
  1. Rắn cắn

Các loại rắn hổ mang, rắn ráo có độc tố thần kinh. Chỗ rắn cắn loại này không đau lắm nhưng chân tê bại, mệt mỏi cao độ, buồn ngủ, muốn ngất, nấc, nôn, dần dần mạch yếu đi, huyết áp cao, khó thở, hôn mê rồi tử vong sau 6 giờ. Còn rắn lục cắn có độc tố gây xuất huyết, các chi đau dữ dội, da đỏ bầm, có nhiều đám xuất huyết, chỗ bị rắn cắn phù nề. Sau 30 phút đến 1 giờ, bệnh nhân sẽ nôn, ỉa lỏng, ngất. Cẩn được cấp cứu như sau: Buộc chặt phía trên chỗ bị rắn cắn, chú ý không thắt chặt quá, không để lâu quá 30 phút. Rạch nhẹ da ở vết cắn, dùng mồm để hút máu ở vết cắn ra. Có thể uống trà nóng để trợ tim mạch, nếu ngạt phải được hỗ trợ hô hấp. Bệnh nhân sau đó cần phải được đưa đến bệnh viện càng sớm càng tốt để được xử lý bằng các biện pháp y tế như tiêm dưới da xung quanh vết rắn cắn, truyền tĩnh mạch, tiêm huyết thanh kháng uốn ván, kháng sinh, chống sốc và dị ứng, thở oxy, v.v… Nếu bị rắn cắn mà sau 15-30 phút không thấy đau, không phù, chi bị cắn không tê bại thì không phải rắn độc cắn.

  1. Ngộ độc thuốc trừ sâu

Thuốc trừ sâu xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, da, niêm mạc (nhất là mắt) và chủ yếu là đường tiêu hóa do bàn tay dính thuốc, uống nhầm, bị đầu độc hoặc tự tử. Có 2 nhóm triệu chứng chính là: loại thuốc kích thích hệ thần kinh phó giao cảm gây co đồng tử, có khi co nhỏ như đầu đinh, vã mồ hôi, nhiều nước bọt, nôn mửa, đau bụng, co thắt phế quản, tím tái, phù phổi, có thể liệt hô hấp, hạ huyết áp; Thứ hai là loại thuốc kích thích các hạch thần kinh thực vật và hệ thần kinh trung ương gây co giật cơ mi mắt, cơ mặt, rút lưỡi, co cứng toàn thân, rối loạn phối hợp vận động, hoa mắt, chóng mặt, run rẩy, không phát âm, hôn mê Người bị ngộ độc thuốc trừ sâu phải được xử lý rất khẩn trương, sớm phút nào lợi phút ấy. Nếu ngộ độc qua đường tiêu hóa, phải ngoáy họng cho nôn, đổng thời phải uống nhiều nước để hòa loãng chất độc trong dạ dày bằng 20 – 30 lít nước sạch, nếu trời lạnh phải dùng nước ấm. Có thể hòa vào mỗi lít nước một thìa cà phê muối và một thìa bột than hoạt tính. Nếu ngộ độc do hấp thụ qua da phải cởi bỏ ngay quần áo và rửa da bằng nước xà phòng. Nếu ngộ độc qua niêm mạc mắt cần rửa mắt bằng nước sạch liên tục trong 10 phút. Cần đưa đến cơ sở y tế ngay sau khi được xử lý kịp thời.

Share this post