Bệnh viêm tắc phế quản – phổi mãn tính, bệnh hen

Bệnh viêm tắc phế quản phổi mãn tính

Theo các bác sĩ chuyên khoa Hô hấp, Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội, bệnh viêm tắc phế quản mãn tính thường ít được biết đến, kể cả người có bệnh. Thời gian ủ bệnh dài và không mấy gây thương tổn khiến bệnh chỉ được phát hiện khi đã ở mức trầm trọng. Và những hậu quả gây ra lúc này là hết sức nguy hiểm…

Viêm tắc phế quản phổi mãn tính là gì?

Viêm tắc phế quản phổi mãn tính là sự suy giảm lưu lượng hô hấp của phổi. Nguồn gốc của sự suy giảm này là do phổi bị thương tổn và vách các ống phế quản dày lên, dẫn đến việc phế quản ngày càng bị thu hẹp lại. Chuỗi phản ứng này là hậu quả của quá trình tấn công lâu dài của các chất độc hại, chủ yếu là khói thuốc lá (80%-90%)

Nhiều người mắc bệnh

Trái ngược với những gì người ta tưởng, viêm tắc phế quản phổi mãn không phải là căn bệnh hiếm gặp. Khoảng 5%-10% người trưởng thành mắc căn bệnh này. ở Pháp, con số bệnh nhân giao động 4 người, trong đó khoảng 30.000 người đã bước vào giai đoạn thiểu nãng hô hấp mãn tính, phải điều trị ở nhà bằng liệu pháp oxy hoặc được trợ giúp bằng máy thông khí phổi. Mỗi năm, có khoảng 15.000 người chết vì căn bệnh này.

Theo dự đoán của Tổ chức Y tế Thế giới, tới năm 2020, viêm tắc phế quản phổi mãn sẽ là căn bệnh gây tử vong nhiều thứ ba trên thế giới.

Phụ nữ dễ nhiễm bệnh hơn

Nam giới và phụ nữ không hề bình đẳng trước các căn bệnh về hô hấp. Do những khác biệt về giải phẫu và hoocmon mà phụ nữ dễ bị phát bệnh sớm hơn và ở những dạng trầm trọng hơn. Vì thế, nếu trước kia người ta thường gắn bệnh viêm tắc phế quản phổi mãn tính với nam giới, thì giờ đây những con số về nhiễm độc thuốc lá ở nữ giới đã làm thay đổi quan niệm đó. Nếu cách đây 10 năm, chỉ có 20% số người mắc bệnh này là phụ nữ thì hiện nay, tỷ lệ này

lên đến 40%-45% ở Anh và Mỹ. Xu hướng gia tăng này cũng đang xuất hiện ở Pháp và nhiều nước châu Á.

Biểu hiện của bệnh

Những triệù chứng đầu tiên của viêm tắc phế quản phổi mạn tính có vẻ như vô hại: Thở dốc khi gắng sức, ho nặng, có đờm vào buổi sáng (giống như viêm phế quản mãn tính). Những người hút thuốc lá thường coi thường các triệu chứng này. Bệnh càng tiến triển thì người bệnh càng hay khó thở dù chỉ hơi gắng sức.

Nguyên nhân gây bệnh?

Nhiễm độc thuốc lá: 80%-90% các ca bệnh là do thuốc lá. Hút thuốc là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh viêm tắc phế quản phổi mãn tính, làm bệnh tiến triển nặng hơn và dẫn đến tử vong.

Môi trường độc hại, ô nhiễm: Nguy cơ mắc bệnh rất cao ở những người phải làm việc trong môi trường độc hại (có khí độc, xi măng, dung môi, bụi silic…). o nhiêm do khói ô tô và ô nhiễm tại nơi ở tuy khó kiểm soát hơn nhưng cũng là tác nhân gây ra viêm tắc phế quản phổi.

Nhiễm trùng: Nhiễm trùng phế quản – phổi ở trẻ em cũng có thể là nguyên nhân phát bệnh về sau.

Cách nào phát hiện bệnh sớm?

Để phát hiện sớm chứng nghẽn phế quản, cách duy nhất cho đến lúc này là đo lưu lượng hô hấp bằng phế dung kế. Nhưng những người mắc bệnh giai đoạn đầu lại thường

đến khám ở bác sĩ đa khoa trong khi thiết bị đo này lại chỉ có ở các bác sĩ chuyên khoa phổi. Tuy nhiên, các thiết bị đo sử dụng trong việc chẩn đoán bệnh hen suyễn ở các phòng khám đa khoa cũng có thể giúp những ngưòi hút thuốc phát hiện những bất thường về hô hấp. Trong trường hợp hô hấp bất thường, người bệnh phải đến khám tại thầy thuốc khoa phổi để xác định tình trạng bệnh của mình. Lý tưởng nhất là người bệnh, đặc biệt là những người hút thuốc lá trên 40 tuổi được cảnh báo trước khi triệu chứng xuất hiện.

Việc chẩn đoán bệnh trước hết dựa vào những thông tin từ phía bệnh nhân (hút thuốc, ho thường xuyên vào buổi sáng, khó thở…) Bác sĩ sẽ khẳng định tình trạng bệnh sau khi xem xét chức năng hô hâp của phổi bằng phế dung kế và nếu cần, sẽ đo nồng độ khí (oxy và cacbonic) trong máu. Các kết quả thu được cho phép xác định bệnh đang ở giai đoạn nào và tiên lượng bệnh. Chụp X-quang và chụp cắt lớp có thể đánh giá được mức độ nghiêm trọng và tiến triển của bệnh.

Hậu quả của viêm tắc phế quản phổi mãn tính?

Biến chứng thường gặp là khí thủng, sự suy thoái ở các cơ đàn hồi của phổi giai đoạn cuối, viêm tắc phế quản dẫn đến thiểu năng hô hấp kéo theo lượng oxy trong máu, ảnh hưởng đến chức năng tim. Đến giai đoạn này thì người bệnh phải dùng đến máy thở oxy mỗi ngày. Tinh trạng hô hấp sẽ ngày càng kém đi. Những cơn kịch phát bệnh có thể dẫn tới tử vong.

Điều trị thế nào?

Điều trị trước tiên và quan trọng nhất phải làm là ngừng ngay việc hút thuốc lá, sử dụng thuốc sau có thể giúp giảm triệu chứng của bệnh:

  • Thuốc giãn phế quản: Giúp mở phế quản, chống khó thở.
  • Thuốc corticoid, chống nhiễm trùng, chống bội nhiễm, dùng dưới dạng xông (hít) như thuốc giãn phế quản. Chất làm lỏng phế quản cũng có ích đối với người bệnh.

Phòng và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp sẽ làm bệnh bớt trầm trọng, bệnh tiến triển chậm hơn. Việc phục hồi khả năng hô hấp của phổi giúp người bệnh bị đứt hơi giúp các cơ vận động. Một phác đồ điều trị kết hợp là cấn thiết. Đôi khi liệu pháp vận động cũng giúp người bệnh dễ khạc đờm giúp thông khí phổi.

Hen phế quản tăng mạnh

Bác sĩ Đỗ Trương Thanh Lan – Khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, thời điểm giaơx mùa như hiện nay, số bệnh nhân hen phế quản tăng đều do v thời tiết thay đổi cộng với việc bệnh nhân không kiểm soát, giữ gìn tốt, bệnh hen trở nên nặng hơn, xuất hiện những cơn hen cấp tính. Tại khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) có đến 30% số bệnh nhân điều trị nội trú là bệnh nhân hen.

■ Cần lưu ý, có nhiều người mắc hen phế quản bị dị úatĩg khá nặng sau khi ăn hải sản. Do đó, bệnh nhân cần biết chộn lựa thức ăn phù hợp để biết kiêng trừ, tránh tạo ra những cơn khó thở cấp. Khi thăm dò thức ăn, nên ăn với liều lượĩlg ít và tăng dần những lần sau nếu thấy an toàn. Khoa cấp cứu đã chứng kiến nhiều ca tử vong do hen mà nguyên nhân ban đầu là do dùng kháng sinh và thuốc chống viêm bừa bãi. Các loại thuốc bệnh nhân tự mua về dùng phần lớn thttặc nhóm thuốc tễ nên gần như không có tác dụng gì với những cơn hen kịch phát.

BS Lan khuyên cáo, người bị bệnh hen cần tránh xa bụi, lông thú vật, không ăn những đồ ăn lạ và luôn nhớ dùng thuốc hen theo chỉ dẫn của thầy thuốc để kiểm soát bệnh tốt, giảm nguy cơ xuất hiện những cơn hen cấp tính.

Hen: căn bệnh gây tử vong đứng thứ 4 trong các loại bệnh

Hen phế quản là một trong những bệnh hô hấp phổ biến nhất hiện nay và cũng là bệnh để lại gánh nặng lớn cho người bệnh, gia đình và xã hội. Bác sĩ Gerard Body – Chuyên khoa Hô hấp – Dị ứng Bệnh viện Việt Pháp, Hà nội, người có 25 năm kinh nghiệm điều trị bệnh hô hấp cho biết: “Nguy hiểm nhất là mọi người đều nghĩ rằng bệnh hen chữa trị đơn giản và đều có thể tự khỏi”.

Bệnh hen và đường thở

Hen là bệnh lý viêm mãn tính đường thở, hay nói cách khác là viêm phế quản mãn tính, biểu hiện bằng khó thở không thường xuyên. Bình thường, đường thở của người thông thoáng, không khí đến phổi dễ dàng. Trong niêm mạc của đường thở có những tế bào chứa các hoạt chất đặc biệt, khi bị tác động bởi những yếu tố gây bệnh (gặp trường hợp, tình huống cụ thể), các chất này được giải phóng và gây ra hen.

Khi có corn hen, không khí qua đường thở chật hẹp đến phổi rất khó khăn và người bệnh có những biểu hiện đặc trưng của bệnh.

Cơn hen có biểu hiện gì?

Đầu tiên, các hoạt chất nói trên được giải phóng làm co thắt đường thở, biến đổi này xuất hiện rất nhanh trong vài phút hoặc chỉ vài giây. Sau đó tình trạng viêm xuất hiện do mặt trong của đường thở bị phù nề, đờm đặc và các chất dịch khác ứ đầy. Các biểu hiện viêm này tiến triển từ từ, hàng giờ, hàng ngày. Người bệnh thường mệt mỏi, chán ăn, không muốn làm việc nặng, thở khò khè, đôi khi giống như tiếng huýt sáo, đồng thời thở nông hơn, khó thở, cảm thấy nặng ngực và kèm theo những cơn ho khan hoặc chỉ có một lượng đờm nhỏ. Các mức độ của cơn hen gồm có: Nhẹ, vừa, nặng, rất nặng và tử vong. Dấu hiệu nặng dần của bệnh biểu hiện qua các triệu chứng: Thở nhanh, mạch nhanh dù đã dùng thuốc cắt cơn; co kéo cơ hô hấp (ở sườn và hõm ức).

Với các dấu hiệu nguy hiểm sau: Nói năng khó nhọc từng từ, tím tái môi, đầu chi vã mồ hôi; cánh mũi phập phồng liên hồi; co kéo xung quanh những xương sườn và cổ khi thở, nhịp tim hoặc mạch nhanh hơn 120 lần/phút; đi lại khó khăn. Người bệnh cần được đưa đến bệnh viện ngay.

Những nguyên nhân gây hen

  • Một trong những nguyên nhân chính gây hen ở trẻ em là do các virus: Cảm cúm, viêm mũi, đường hô hấp, gây hen và bệnh SARS.
  • Yếu tố di truyền: Khi cả bố và mẹ đều bị hen thì khả năng con cái bị bệnh là 50%; khi chỉ có 1 trong hai người bị thì khả năng này ở con cái là 30%.
  • Những yếu tố và dị nguyên khởi phát cơn hen gồm có: Thời tiết thay đổi đột ngột như gió mưa, áp thấp nhiệt đới. Cũng có các nguyên nhân do hóa chất, khói bụi, khói thuốc lá, khói hương, khói bếp, sơn, nước hoa, mỹ phẩm, thuốc diệt côn trùng, mùn cưa, phấn hoa, lông thú; các cơn hưng phấn hay stress; ho, cười sặc sụa, gắng sức làm một việc gì.

Phải làm gì khi gia đình có người bệnh hen?

Giúp người bệnh tránh xa các yếu tố khởi phát cơn hen là điều hết sức cần thiết:

  • Chỉ được làm những việc dưới đây khi người bệnh không có nhà: Quét nhà, hút bụi, sơn cửa, dùng hóa chất tẩy rửa, phun thuốc diệt côn trùng, nấu thức ăn có mùi đặc biệt.
  • Đóng, mở cửa đúng lúc: Mở rộng cửa sổ khi trời oi bức, trong phòng có khói bếp hoặc mùi khó chịu; đóng kín cửa nếu không khí bên ngoài nhiều khói bụi, chất thải từ các khu vực quanh nhà.
  • Hạn chế đốt hương, dùng bếp than, bếp củi, không hút thuốc lá.
  • Không nuôi chó, mèo, gà, vịt không dùng đệm, thảm đã bị mốc. Nếu có thảm trong nhà phải thường xuyên hút bụi.
  • Bọc đệm và gối bằng vỏ kín có khóa kéo, không dùng đệm rơm. vỏ chăn gối phải thường xuyên được giặt nước nóng và phơi nắng.
  • Phụ nữ có thai bị hen: Việc khống chế cơn hen lúc này là cực kỳ quan trọng vì cơn hen gây nhiều tác hại khôn lường cho bà mẹ và thai nhi. Không được dùng corticoid uống, tiêm hay truyền, chủ yếu chỉ được dùng thuốc cắt cơn và dự phòng hen dạng khí dung.
  • Trẻ em: phần lớn bệnh nhân hen trẻ em là từ 4-15 tuổi, hãn hữu bị từ 1-2 tuổi. Trẻ không nên đến trường học khi triệu chứng hen nặng dần, nhất là cơn hen cấp. Cần nói rõ với thầy cô giáo, nhất là các giáo viên thể dục về tình trạng của bệnh và các loại thuốc mà trẻ dùng.

Các loại thuốc cho bệnh nhân hen:

Thường có thuốc cắt cơn, thuốc dự phòng hen, thuốc điều trị hen bằng khí dung Người bệnh phải được bác sĩ chuyên khoa khám, chụp phổi, đo chức năng hô hấp, xét nghiệm da dị ứng, từ đó chỉ định sử dụng thuốc theo cơ địa và bệnh trạng của từng người.

 

Share this post