Bệnh về mắt

ASPIRIN VÀ GENTAMICIN KHÔNG GÂY KHIẾM THỈ

Theo nghiên cứu của ĐH Michigan (Mỹ) và ĐH ẫl Quân Y (Trung Quốc), người chữa bệnh bằng kháng sinh gentamicin và aspirin sẽ tránh được nguy cơ khiếm thị vĩnh viễn, một phản ứng phụ thường thấy của các loại kháng sinh.

Mỗi năm trên thế giới có hàng triệu người uống kháng sinh và 1/10 bị khiếm thị vĩnh viễn do dùng thuốc. Nếu sử dụng aspirin, rất nhiều ca sẽ tránh được nguy cơ khiếm thị. Tuy nhiên aspirin có thể gây chảy máu dạ dày.

CA GHÉP GIÁC MẠC CHO NGƯỜI MÙ ĐÃ THÀNH CÔNG

Vừa qua, Bệnh viện mắt T.Ư đã ghép giác mạc thành công cho bệnh nhân Hoàng Thị Lụa (Nam Định), mắc bệnh mù bẩm sinh. Bác sĩ Phạm Ngọc Đông (BV Mắt T.ư) cho biết: Bệnh nhân Lụa là một trong số 100 người được hẹn ghép giác mạc miễn phí trong năm 2006. Sau khi mổ mắt để ghép giác mạc bệnh nhân sẽ được theo dõi và dùng thuốc chống nhiễm trùng trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo BS Đông, nhu cầu được ghép giác mạc của bệnh nhân là rất lớn, nhưng khó khăn lớn nhất là nguồn cung cấp giác mạc đều phải trỏng chờ vào nguồn viện trợ nhân đạo. Hiện nay, ngân hàng giác mạc của Bệnh viện Mắt T.Ư đã nhận được đề nghị hiến tặng giác mạc sau khi chết của hai cá nhân người Việt Nam.

CON TÔI CÓ BỊ LÁC MẮT?

Thông thường ở trẻ sơ sinh, hai mắt của bé không phải lúc nào cũng cử động cùng lúc và cùng mức với nhau. Khi đó có cảm giác như mắt bé bị lác một chút. Thực ra, đó là bé đang tập sử dụng đôi mắt của mình. Hiện tượng này sẽ hết nhanh chóng. Tuy nhiên nếu sau 3 tháng tuổi, để ý thấy mắt cháu vẫn bị như vậy thì phải lưu tâm. Lúc đó hãy chọn một đồ chơi có màu sắc sặc sỡ, hình khối rõ ràng, để cách mặt bé khoảng 20 cm và di chuyển vật đó từ từ qua bên này rồi bên kia. Nếu hai mắt bé thực sự không cùng nhìn theo vật đó thì nên cho bé đi khám ở bác sĩ chuyên khoa mắt để có cách xử lý kịp thời.

THUỐC CHO NGƯÒI BỈ VIÊM KẾT MẠC

Viêm kết mạc cấp là bệnh thường gặp ở kết mạc do vi khuẩn gây nên. Nếu không được điều trị kịp thời và đúng thuốc thì giác mạc có thể bị viêm loét, tiến triển thành áp xe

và từ tổn thương này có thể tiến triển thành nội nhãn.

Mắt phải được rửa liên tục bằng nước muối sinh lý 0,9% để loại trừ tiết tố mủ.

Những ngày đầu, bệnh diễn tiến nhanh, cấp tính cần điều trị khẩn trương bằng cách nhỏ thuốc 15 đến 30 phút một lần, một trong các thuốc như Ciprofloxacin, Gentamyxin, Tobramycin và kèm các thuốc mỡ như Erytromycin, Bacitrocin, Gentamyxin. Khi bệnh bắt đẩu thuyên giảm thì dùng giãn dần thời gian giữa các lần nhỏ mắt.

Trước khi nhỏ mắt, phải rửa tay thật sạch sẽ. Sau đó làm sạch mắt bằng một miếng gạc tẩm nước muối sinh lý, phải lau từ khóe mắt trong ra khóe mắt ngoài để tránh nhiễm sang tuyến lệ và mắt bên kia. Dùng ngón tay kéo nhẹ da dưới mí mắt xuống và nhỏ một giọt thuốc vào 1/3 ngoài mi dưới. Ân lên tuyến lệ khoảng 30 giây để tránh cho thuốc chảy xuống tuyến lệ. Nên để lọ cách mắt khoảng hơn 1 cm. Nhỏ xong nên dùng gạc sạch lau phần thuốc thừa. Nếu dùng thuốc mỡ giữ ống thuốc ở trên mi mắt dưới, nặn 3cm thuốc mỡ, tra vào mí mắt từ trong ra ngoài.

Có thể dùng Cephalosporin loại uống hoặc tiêm cho người lớn nếu bị loét giác mạc do lậu cầu.

CẬN THỈ CÓ CHỮA KHỎI?

Tôi đọc trên báo điện tử www.bacsivietnam.com.vn vể phưong pháp phẫu thuật điều trị cốc tật khúc xạ bằng má/ laser thế hê mói tại ỒV Mắt T.Ư có thể chữa khỏi cận đền !2Ö đi-ốp. Tôi bị cận từ nhổ, naỵ đã cận tói 15 đi-ốp, liệu sau khi phẫu thuật có khỏi được hoàn toàn?

ThS. Cung Hồng Sơn – Trung tâm Laser Excimer Bệnh viện Mắt T.Ư cho biết: Nguyên tắc mổ laser là làm mỏng giác mạc, máy laser EC-5000 có hệ thống thăm khám trước khi mổ để xác định độ dày, mỏng trong từng vùng giác mạc. Từ đó sẽ giúp bác sĩ biết cần để lai cho bệnh nhân một độ dày nhất định nào đó của giác mạc. Bởi vậy, với những bệnh nhân nặng trên 12 đi-ốp, máy không triệt tiêu hết độ cận mà chỉ làm giảm số. Còn từ 12 đi-ốp trở xuống, sau phẫu thuật thị lực có thể đạt 10/10. Trong trường hợp của bạn, sau mổ sẽ vẫn đeo kính mới đạt được thị lực tối đa, nhưng độ cận đã giảm xuống rất nhiều, thậm chí chỉ còn từ 2-3 đi-ốp.

Bị CẬN THỈ BẠN PHẢI LÀM THẾ NÀO

Cận thị lả bệnh gì và có phải là bệnh di truyền không?

Khi mắt nhìn vật ở xa không rõ, nhìn gần mới rõ tức là đã bị cận thị. Một cách chi tiết hơn, ta thấy cấu tạo của

mắt có hình cầu. Phía trước, lộ ra ngoài là giác mạc trong suốt, sau giác mạc là mống mắt tạo màu mắt, rồi đến thuỷ tinh thể, sau nữa có lófp màng nhạy cảm với ánh sáng gọi là võng mạc và cuối cùng là cầu mắt. Một mắt bình thường thì giác mạc sẽ điều chỉnh cự ly cho hình ảnh rơi vào trung tâm võng mạc và cầu mắt sẽ dài ’23mm. Nhưng khi cầu mắt dài hơn 23mm, hình ảnh rơi vào trước võng mạc khiến nhìn bị mờ đi, như vậy là bị cận thị. Ngoài ra, còn liên quan đến những người già có xuất hiện đục thủy tinh thể. Mức độ cận thị được đo bằng diop, người cận thị càng nặng thì số diop càng tăng. Cận thị thường có mang yếu tố di truyền nhưng không nhất thiết là truyền từ cha mẹ sang con.

Độ cận của hai mắt có như nhau không và liệu đeo kính có thể làm ngừng tăng diop người cận thị?

Thông thường rất ít trường hợp cận đều hai mắt, đa phần là lệch nhau. Vì thế phải được khám và đo kính thật chuẩn xác cho từng mắt. Cận từ 0,5 diop đã nên đeo kính rồi. Đeo kính không làm ngừng tăng diop vì theo quá trình phát triển của cơ thể, mắt to dần về phía saú nên độ cận cũng tăng lên. Đeo kính thường xuyên thì độ cận vẫn tăng chỉ chậm hơn so với người không đeo kính. Nhưng việc đeo kính là hết sức cần thiết vì nó sẽ giúp người bị cận thị nhìn rõ hơn, mắt không phải điều tiết quá sức, không gây mỏi mắt, nhức đầu.

Vậy ở lứa tuổi nào độ cận thị tăng nhanh nhất và có cách nào chữa khỏi cận thị hoàn toàn?

Cận thị hay bắt đầu xuất hiện từ 6-12 tuổi và độ tuổi

tăng diop nhanh, nhiều nhất là từ 10-15 tuổi. Muốn hết cận thị hoàn toàn, chỉ có cách mổ bằng tia laser. Mổ sớm từ khi cận dưới 5 diop sẽ cho kết quả thành công trên 80%. Nhưng để tránh các nguy cơ nhiễm trùng trong quá trình mổ và lên sẹo thì người bị cận phải đến các bệnh viện chuyên khoa và được khám kỹ lưỡng.

Nhưng thực tế có những người học tập, làm việc nhiều thấy mỏi mắt, nhìn mờ hơn, đi đo mắt ở các hiệu kính thuốc và có độ diop nhẹ (0,5-0,75 diop). Sau đó một thời gian nghỉ ngơi, luyện tập lại không thấy bị cận nữa.

Thực ra, đó là hiện tượng giả cận thị, hay còn gọi là cận thị học đường. Khi đọc sách, làm việc quá nhiều, các cơ quanh thủy tinh thể kém di gây nên hiện tượng này. Nếu đi khám ở các bệnh viện có chuyên khoa mắt, bệnh nhân sẽ được nhỏ thuốc giãn đồng tử để kiểm tra cận thật hay cận giả để được điều trị đúng cách. Nếu cận thật thì phải đeo kính, còn cận giả thì chỉ cần nghỉ ngơi, ăn uống đủ chất là hiện tượng nhìn mờ sẽ hết.

Ngày nay, kính áp tròng khá phổ biến và thuận tiện trong sinh hoạt cũng như thẩm mỹ. Những người nào không nên dùng loại kính này?

Về khả năng điều chỉnh cho mắt cận thị thì kính áp tròng cũng như kính thường đều có tác dụng như nhau. Nếu sống ở môi trường ít ô nhiễm và người có nước mắt bình thường thì hoàn toàn có thể đeo kính áp tròng. Nhưng nếu môi trường quá bụi bặm, khói nhiều, ô nhiễm và người có ít nước mắt thì đeo kính áp tròng sẽ có nguy cơ nhiễm trùng hoặc loét mắt.

Những lời khuyên cho người bị cận thị nói riêng và cách bảo vệ mắt nói chung

Người bị cận thị nên đeo kính mỗi khi thấy cần phải nhìn rõ. Cứ 6 tháng một lần phải đi khám mắt, đo độ cận thị để thay mắt kính phù hợp, thậm chí khi thấy khó chịu nhức đầu khi đeo kính cũng phải đi khám ngay. Người bị cận thị thường có võng mạc yếu và thường hay bị tăng nhãn áp (bệnh thiên đầu thống), vì vậy việc khám định kỳ còn phát hiện được những bệnh này từ sớm. Để bảo vệ mắt, cần đeo kính trong môi trường ô nhiễm, nắng to, không nên nhỏ bất cứ loại thuốc gì, kể cả nước mắt nhân tạo nếu không có chỉ định của bác sĩ, ăn uống điều độ, giàu vitamin và thư giãn, nghỉ ngơi mắt xen kẽ khi phải làm việc trí óc nhiều.

BÍ QUYẾT GIỮ MẮT KHỎE

Bạn bè, người thân đều khâm phục Trần Ngọc Yến, cô sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng Kinh tế và Quản trị Kinh doanh (Hưng Yên) khi cô đã giữ được độ cận thị từ năm lớp 10 đến nay đã 4 năm mà không tăng một đi-ốp nào. Với những người phải làm bạn với độ đít chai, giữ không tăng độ cận thị là mối quan tâm rất lớn của họ.

Bí quyết của Yến rất đơn giản, theo đúng hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa mắt nhưng không phải ai cũng kiên nhẫn thực hiện theo được. Dù việc học hành bận rộn đến mấy, Yến cũng dành thời gian nghỉ ngơi thích hợp cho đôi mắt. Học, đọc sách sau 45 phút, Yến đểu nghỉ giải lao rồi ra

ban công, bỏ kính và tập nhìn xa để thư giãn mắt. Kiên trì làm vậy sẽ giảm được nguy cơ tăng đi-ốp. Tuy nhiên, cô cho biết, nếu nhìn xa vào ban ngày, mọi người không nên nhìn ngược ánh sáng mặt trời, nếu không sẽ làm mắt thêm mỏi.

Ngoài ra, Yến hay xông mắt bằng cách nhỏ vài giọt chanh vào cốc nước hơi nóng, rồi để gần lên mắt chớp chớp. Bạn cứ thử một lần rồi biết, sau khi xông mắt rất dễ chịu, và nó tạo cho bạn cảm giác có một đôi mắt khỏe, long lanh – Yến tiết lộ.

BỆNH VIỆN MẮT T.Ư ĐÃ CÓ NGÂN HÀNG GIÁC MẠC

Bệnh viện Mắt T.ư cho biết, đã bắt đầu hình thành một ngân hàng giác mạc.

Theo Bác sĩ Cung Hồng Sơn, thì đây là một thông tin vui đối với người bị hỏng giác mạc bởi từ trước đến nay, nguồn cung cấp giác mạc tại nước ta chỉ trông chờ vào ngân hàng giác mạc do một tổ chức y tế Mỹ cung cấp với số lượng có hạn. Trong khi đó, trung bình mỗi năm có khoảng 300.000 trường họp cần được ghép giác mạc.

PHÒNG BỆNH ĐAU MẮT ĐỎ

Đau mắt đỏ cấp tính do siêu vi Adenovirus gây ra thường tự khỏi trong khoảng một tuần. Bệnh dễ lây lan qua tiếp xúc trực tiếp như bắt tay hoặc gián tiếp khi ho, trong khi bơi, dùng chung khăn với người bị bệnh. Để phòng tránh,

cần giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt, tránh tiếp xúc với người mắc bệnh. Khi mắc phải, người bệnh có thể dùng nước mắt nhân tạo, kháng viêm, kháng sinh nhỏ tại chỗ để giảm triệu chứng khó chịu và giúp bệnh mau khỏi. Tuy nhiên, cần có sự chẩn đoán và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Bệnh dễ lây

Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc – Phó Giám đốc BV Nhi T.Ư cảnh báo, tuy bệnh ít gây những biến chứng nặng nề cho mắt nhưng lại dễ lây lan rất nhanh và đối với trẻ em. Đau mắt đỏ có thể lây qua đường nước bọt. ở người bệnh đau mắt đỏ, trong nước mắt có chứa rất nhiều virus và khi bệnh nhân nói chuyện, ho hoặc hắt hơi thì virus sẽ theo nước bọt bắn ra ngoài và lây bệnh cho người khác. Bệnh cũng dễ dàng lây nếu dùng chung khăn, chậu rửa mặt, thậm chí bẹnh nhân dụi mắt và cầm nắm vào các đồ vật là đủ để lây bệnh cho những người tiếp xúc với chúng. Đây là nguyên nhân khiến bệnh dễ lây trong môi trường đông đúc là gia đình, lớp học, hồ bơi…

Gây nhiều khó chịu

PGS.TS Trần An cho biết, triệu chứng chính của đau mắt đỏ là cộm mắt, ngứa, cảm giác có dị vật trong mắt, chảy nước mắt và có nhiều rỉ mắt, mắt đỏ. Đôi khi sáng ngủ dậy, rỉ mắt làm cho hai mi dính chặt lại nên bệnh nhân rất khó mở mắt. Các triệu chứng này xuất hiện nhanh và rầm rộ. Bệnh nhân cũng có thể sốt nhẹ, có sưng.hạch góc hàm hoặc hạch sau tai, họng đỏ, amidan sưng to. ‘Bệnh hay bắt đầu từ một mắt, sau đó vài ba ngày đến mắt thứ hai. Nhiều người quan niệm, khi bị đau mắt đỏ, phải đau cả hai bên rồi mới khỏi, nhưng thực tế, nếu chúng ta biết cách ngăn chặn sự lây lan của bệnh thì có thể khỏi bệnh và không lây sang mắt còn lại. Phòng bệnh – quan trọng là ý thức

Theo bác sĩ, vì đau mắt đỏ do virus dễ lây, nên để tránh lây lan thành dịch, quan trọng nhất vẫn là ý thức của người bệnh khi tiếp xúc với người xung quanh, ý thức giữ gìn vệ sinh mắt, rửa tay thường xuyên. Người bệnh không nên sờ mó vào mắt đau, không bắt tay người khác, không dùng chung khăn mặt… Khi bị bệnh, cũng không nên tới những nơi công cộng như bể bơi, trường học. Khi đi ra ngoài, nên đeo kính, khẩu trang…

Với người mới bị đau một mắt, có thể phòng cho mắt còn lại bằng cách, khi rửa mặt, nên rửa bên mắt lành trước bằng khăn riêng, sau đó rửa sạch tay bằng xà phòng mới dùng khăn khác rửa cho mắt đau. Làm như vậy sẽ hạn chế sự lây lan sang hai mắt.

Để phòng bệnh đau mắt đỏ, cần phải biết giữ gìn vệ sinh đôi mắt và thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Khi đi đường bụi phải đeo kính và mỗi ngày nên dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa mắt hàng ngày sau khi đi bụi, tiếp xúc với hóa chất, nước hồ bơi… Không đưa tay lên dụi mắt hoặc quệt vào mắt. Tốt nhất là nên cách ly người bệnh với những người xung quanh.

Khi bị bệnh, bệnh nhân nên đến khám tại các cơ sở khám chữa mắt để có chẩn đoán và phương pháp điều trị hợp lý. Không nên tự ý dùng các loại thuốc nhỏ mắt vì việc điều trị sai hoặc giữ vệ sinh kém còn có thể dẫn đến các biến chứng như viêm giác mạc chấm, viêm giác mạc dưới biểu mô, sẹo giác mạc gây mù… Có thể giảm đỡ cảm giác ngứa, cộm bằng cách chườm gạc lạnh nhiều lần trong ngày.

KÍNH RÂM KHÔNG CÓ TÁC DỤNG PHÒNG ĐAU MẮT ĐỎ

Nhiều người cho rằng nhìn vào mắt người bị đau mắt đỏ sẽ lây, nên tự trang bị cho mình một cặp kính râm để khỏi ảnh hưởng đến người khác.

Nhưng thực tế, đeo kính râm không có tác dụng phòng đau mắt đỏ, vì đây là bệnh lây qua đường hô hấp, đường tiếp xúc. Dù đeo kính râm cũng có khả năng lây bệnh cho người khác, nhất là môi trường làm việc có sử dụng máy điều hòa nhiệt độ thì nguy cơ lây bệnh qua đường hô hấp càng cao. Để tránh lây lan, tốt nhất người bệnh nên có ý thức cách ly với những người xung quanh và dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ.

LÀM CHẬM TIẾN TRÌNH LÃO HÓA MẮT

Quá trình lão hóa mắt biểu hiện rõ từ lứa tuổi 40 và để lại những tác hại nghiêm trọng, gây cốc biến chứng lão thị, đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm khiến thị lực bị suy giảm, thậm chí mù vĩnh viễn. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể can thiệp để làm chậm tiến trình lão hóa mốt.

Nguyên nhân

Lão hóa mắt theo thời gian là điều tất yếu, tuy nhiên

quá trình này càng tiến triển nhanh khi có các yếu tố nguy cơ như:

Mắt phải làm việc quá nhiều, thường xuyên tiếp xúc với máy tính, vô tuyến, sách báo, sử dụng ánh sáng không hợp lý, hay phải chịu tác động của các yếu tố độc hại từ mối trường bên ngoài như hóa chất, khói bụi, môi trường ô nhiễm, tiếp xúc với ánh nắng nhiều là những nguyên nhân thúc đẩy nhanh quá trình lão hóa mắt. Ngoài ra, hút thuốc lá nhiều làm suy yếu hệ tuần hoàn của cơ thể, làm giảm lượng máu đến mắt, thiếu một số chất dinh dưỡng cần thiết do mạch máu đem tới như vitamin A, c, E; các nguyên tố vi lượng như đồng, kẽm sẽ khiến quá trình lão hóa mắt tiến triển nhanh hơn.

Biến chứng của lão hóa mắt

Thoái hóa hoàng điểm: Trong điều kiện bình thường, máu cung cấp các chất dinh dưỡng và hấp thụ lại chất cặn bã do hoàng điểm thải ra. Khi có hiện tượng lão hóa, lưu lượng máu đến hoàng điểm kém hơn, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng của hoàng điểm bị cản trở, chất cặn bã tích lại nhiều hơn. Hoàng điểm không được nuôi dưỡng đầy đủ dẫn đến mắt bị mờ nhìn hình ảnh biến dạng và có thể không nhìn thấy ở vùng trung tâm. Hiện tượng,síiày „thường xảy ra ở người cao tuổi.

Đục thủy tinh thể: Thủy tinh thể (nhân mắt) bị xà cứng, không thể phồng lên để thực hiện chức năng điều tiết khi nhìn gần gọi là hiện tượng lão thị ở người già. Theo thời gian thủy tinh thể không còn trong suốt nữa, mà trở thành mờ đục gây nên hiện tượng đục thủy tinh thể (còn gọi là cườm). Hiện tượng này xảy ra ở 50% người lớn tuổi, khi mới bị thì nhìn xa thấy mờ, về sau nhìn gần cũng mờ, giơ bàn tay ra trước mắt cũng chỉ thấy bóng.

Tăng nhãn áp: Vùng bè giác – củng mạc, ống Schlemm cũng có thể bị xơ hóa, do đó dễ làm áp lực nội nhãn tăng cao (còn gọi là bệnh thiên đầu thống, Glaucom). Bị tăng nhãn áp cấp tính, bệnh nhân nhức mắt, nhức đầu dữ dội, mắt đỏ, nhìn mờ, nhìn thấy các vòng màu giống như cầu vồng, đôi khi có ói mửa. Bệnh này cần điều trị ngay khi mới bị, vì ở người lớn khi thị giác bị tổn thương do bệnh tăng nhãn áp thì không thể phục hồi được nữa.

Làm chậm tiến trình lão hóa

Chúng ta có thể can thiệp để giảm quá trình lão hóa mắt bằng các cách sau:

Dùng mũ rộng vành, đeo kính râm có khả năng chống tia cực tím khi đi dưới ánh nắng. Hạn chế đi ngoài đường vào thời điểm có ánh nắng gay gắt từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều.

Chăm sóc mắt đúng cách: Không đọc sách quá gần (ở người lớn khoảng cách từ 30 – 35cm, trẻ em khoảng cách từ 25 – 30cm), không đọc sách khi ngồi trên các phương tiện giao thông đang chuyển động.

Duy trì chế độ ăn uống hợp lý, giàu vitamin A, c, E, ăn nhiều rau quả. Dùng thuốc có chứa nhiều chất dinh dưỡng cho mắt như thành phần chiết suất sụn vi cá mập

thiên nhiên; các loại nguyên tố vi lượng (đồng, kẽm); các vitamin A, c, E, bêta-carotene. Các chất chiết suất từ sụn vi cá mập thiên nhiên là những chất có khả năng khử các gốc tự do trong tế bào, do đó ngăn chặn tận gốc các thương tổn do ôxy hóa gây ra trên tế bào, ngăn ngừa tiến trình lão hóa của mắt, tránh được các bệnh do lão hóa như: Đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, thoái hóa hoàng điểm, thoái hóa võng mạc tránh được nguy cơ giảm thị lực hoặc mù vĩnh viễn.

THẬN TRỌNG VỚI BỆNH VIÊM KẾT MẠC MÙA XUÂN

Bệnh viêm kết mạc mùa xuân (viêm kết mạc dị ứng) là bệnh rất phổ biến ở những người có cơ địa di ứng và bệnh xuất hiện nhiều vào mùa xuân. BS.ThS Vũ Tuệ Khanh, Khoa Kết giác mạc BV Mắt T.u’ cho biết, nếu điều trị dứng sẽ không để lại hậu quả nghiêm trọng, nhưng nếu người bệnh tự ý dùng các loại thuốc nhỏ mắt kéo dài, không theo chỉ dẫn của bác sĩ rất dễ bị tác dụng phụ của thuốc dẫn đến mù lòa.

Đặc điểm của viêm kết mạc mùa xuân

Viêm kết mạc mùa xuân là một bệnh do dị ứng ở mắt, có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng gặp nhiều nhất ở trẻ trai, từ 7 – 8 tuổi trở lên. Bệnh thường tái phát theo mùa, và hay bị vào mùa xuân.

Bác sĩ Khanh cho biết, nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc mùa xuân là các tác nhân gây dị ứng. Có rất nhiều các dị nguyên gây nên, nhưng tùy thuộc vào từng cơ địa mà mỗi người chịu sự tác động của các dị nguyên gây dị ứng khác nhau, như phấn hoa, lông thú vật, bụi nhà, thời tiết, côn trùng.

Triệu chứng nổi bật nhất là người bệnh bị ngứa đỏ cả hai mắt. Vì ngứa nên lúc nào bệnh nhân cũng muốn dụi mắt, nhưng càng dụi càng ngứa. Đôi khi chỉ do một kích thích như: Ánh nắng chiếu vào mắt, bụi vào mắt, đang trong chăn ấm đi ra ngoài lạnh cũng bị ngứa đỏ mắt.

Biến chứng của bệnh

Khi bị viêm kết mạc mùa xuân mà không được điều trị, tình trạng bệnh càng trở nên nặng hơn. Viêm kết mạc nhiều sẽ dẫn đến viêm giác mạc, gây ảnh hưởng rất nhiều đến thị lực, làm giảm thị lực, còn nếu điều trị không đúng cách sẽ dẫn đến mù lòa.

Lưu ý khi dùng thuốc

Bác sĩ Khanh cho biết, một thực tế đáng lo ngại là thói quen tự dùng thuốc của người bệnh. Khi bị viêm kết mạc dị ứng, nếu tùy tiện dùng thuốc kéo dài không theo chỉ dẫn của bác sĩ, người bệnh khó tránh khỏi tác dụng phụ của thuốc dẫn đến mù mắt khi còn rất trẻ. Hơn nữa, viêm kết mạc mùa xuân là bệnh rất hay tái phát, người bệnh dùng liên tục một loại thuốc lại càng có nguy cơ bị mù cao hơn.

Viêm kết mạc mùa xuân là bệnh dị ứng nên hướng giải quyết chính sẽ là chống dị ứng. Khi bị những đợt viêm cấp tăng lên do thời tiết hoặc dị ứng nguyên, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc ức chế viêm mạnh hơn để điều trị triệu chứng. Tuy nhiên, loại thuốc này được chỉ định sử dụng rất nghiêm ngặt chỉ dùng tronư giai đoạn bệnh biểu hiện nặng.

Sau giai đoạn điều trị triệu chứng, người bệnh phải duy trì loại thuốc chống dị ứng, dùng nhỏ mắt thường xuyên, kéo dài. Có nhiều loại thuốc chống dị ứng trên thị trường, tùy từng trường hợp mà bác sĩ cho bệnh nhân dùng thuốc phù hợp. Khi bị tái phát bệnh, bệnh nhân tuyệt đối không tự ý dùng lại toa thuốc cũ vì mỗi thời điểm có thể phải dùng loại thuốc khác nhau.

Phòng bệnh như thê nào?

Bị dị ứng với dị nguyên nào, người bệnh cần tránh tiếp xúc với dị nguyên đó. Như nếu dị ứng với phấn hoa, bụi thì cần phải đeo kính mắt, đeo khẩu trang; không nên trồng, cắm hoa xung quanh nhà; khi dọn vệ sinh nhà cửa cần có phương tiện bảo hộ che chắn bụi. Khi bị bụi, phấn hoa bay vào mắt phải dùng thuốc chống dị ứng nhỏ vào mắt rửa sạch các dị nguyên này. Dị ứng với lông thú vật thì không nên nuôi chó, mèo trong nhà. Người bệnh không nên dụi mắt khi ngứa và cần ghi nhớ phải dùng thuốc nhỏ mắt chống dị ứng mỗi ngày.

Share this post